* Một số văn bản quy phạm pháp luật mới đáng chú ý:
- Ngày 01/09/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 102/2020/NĐ-CP quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam. Nghị định gồm 06 chương, gồm: Quy định chung; Quản lý gỗ nhập khẩu, xuất khẩu; Phân loại doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ; Giấy phép FLEGT và đánh giá độc lập; Tổ chức thực hiện và Điều khoản thi hành.
Nghị định áp dụng đối với tổ chức, hộ kinh doanh, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động liên quan đến quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam đối với nhập khẩu, xuất khẩu; đến việc thực hiện phân loại doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ; đến việc cấp giấy phép FLEGT.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 30/10/2020 trừ: quy định về phân loại doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ tại Chương III có hiệu lực sau 18 tháng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành; quy định đối với quản lý gỗ xuất khẩu tại Mục 2 Chương II và cấp giấy phép FLEGT tại mục I Chương V có hiệu lực theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
- Ngày 15/7/2020 Chính phủ ban hành Nghị định số 83/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp. Nghị định gồm 04 điều.
Nghị định sửa đổi Điều 41 của Nghị định 156/2018/NĐ-CP về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác; bổ sung Điều 41a về tiêu chí xác định dự án được chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác và Điều 41b về quy định đối với diện tích rừng đã được quy hoạch cho mục đích sử dụng khác không phải lâm nghiệp.
Nghị định có hiệu lực ngay kể từ ngày ký ban hành, ngày 15/7/2020.
* Cập nhật vài nét chính về rừng và lâm nghiệp Việt Nam
Trong những năm vừa qua, ngành Lâm nghiệp Việt Nam đã giành được những thành tựu to lớn trong việc nâng cao diện tích, chất lượng rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện hoạt động chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn miền núi.
Tính tới tháng 12/2019, tổng diện tích rừng của Việt Nam là 14.609.220 ha, đạt tỷ lệ che phủ của rừng là 41,89% (tăng 23,9% so với năm 2002). Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 12,3 tỷ USD, xuất siêu 8,7 tỷ USD. Việt Nam đã xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tới trên 140 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới và trở thành quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới, thứ hai châu Á và thứ nhất Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ.
ST
* Hội thảo "Tiếp cận đa bên trong giám sát, đánh giá chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng"
Ngày 28/5/2020 vừa qua, tại Hà Nội, Hội Chủ rừng Việt Nam cùng với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) đã cùng tổ chức hội thảo "Tiếp cận đa bên trong giám sát, đánh giá chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng"
Tham dự hội thảo có nhiều các đại biểu đến từ các cơ quan, tổ chức có quan tâm, như Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Tổng cục lâm nghiệp, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam và các Quỹ bảo vệ và phát triển rừng các tỉnh, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế, các cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng, các chuyên gia và cơ quan báo đài, các thành viên Hội Chủ rừng Việt Nam và tổ chức cơ sở của hội..
Tại cuộc hội thảo, ông Hứa Đức Nhị, Chủ tịch Hội Chủ rừng Việt Nam đã có bài phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Bá Ngãi, PGS TS, Phó Chủ tịch Hội Chủ rừng Việt Nam có bài trình bày về "Quy định hiện hành và cách tiếp cận xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá chi trả DVMTR ở Việt Nam ";
Các bài trình bày và thảo luận tại hội thảo đã góp phần: (1) Nhận diện và chia sẻ các cách tiếp cận khác nhau trong thiết kế và xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá chi trả DVMTR quốc gia và địa phương: bài học kinh nghiệm từ quan điểm của các bên.
(2)Thảo luận về cơ hội cho sự tham gia của các tổ chức ngoài nhà nước (tổ chức nghiên cứu, xã hội dân sự và cả cộng đồng) trong thiết kế và thực hiện hệ thống giám sát – đánh giá chi trả dịch vụ môi trường rừng.
(3) Có các kiến nghị chính sách hướng đến thể chế hóa đánh giá, giám sát chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Độc giả có quan tâm có thể xem tại đây (bằng việc kích chuột) ý kiến phát biểu khai mạc có tính đề dẫn của ông Hứa Đức Nhị, Chủ tịch Hội Chủ rừng Việt Nam tại hội thảo.
BBT
* CHỨNG CHỈ RỪNG BỀN VỮNG
Kể từ sau tuyên bố của Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất của Liên Hiệp Quốc tại Rio de Janeiro tháng 6 năm 1992 , phát triển bền vững đã trở thành một trong những chiến lược được thế giới quan tâm nhiều nhất. Trong bối cảnh đó, lâm nghiệp cũng xem quản lý rừng bền vững là cách thể hiện trách nhiệm của các thế hệ hiện tại, trong khi thỏa mãn các nhu cầu của mình, không tạo ra tác động tiêu cực nào đối với nhu cầu về các loại sản phẩm từ rừng của các thế hệ tương lai.
Chứng chỉ rừng là chứng chỉ cấp cho một hoặc các khu rừng được xác định đã tuân thủ, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu liên quan đến các tiêu chuẩn bền vững về môi trường, xã hội và kinh tế từ lúc trồng, quản lý đến khai thác, thu hoạch.
Trong những bài viết lần lượt được đăng trên trang mạng của Hội Chủ rừng Việt Nam, TS Lê Khắc Côi - một chuyên gia rất am hiểu về chứng chỉ rừng bền vững sẽ giới thiệu những thông tin cơ bản về chứng chỉ rừng quốc tế và những yêu cầu thực tế mà chủ rừng cần đáp ứng để có thể được cấp chứng chỉ rừng.
Trang website Hội Chủ rừng Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết của TS Lê Khắc Côi giới thiệu về Chứng chỉ rừng (bài 1) và