X

Đoàn công tác đi hiện trường rừng Phần Lan.

Đoàn công tác tại Đại sứ quán Việt Nam tại Phần Lan.

Đoàn công tác lắng nghe các báo cáo về lâm nghiệp Phần Lan.

MỘT VÀI NÉT VỀ HIỆP HỘI QUẢN LÝ RỪNG TƯ NHÂN Ở PHẦN LAN

      Trong chuyến công tác tại Phần Lan, ngày 20/5/2015, ông Hứa Đức Nhị (nguyên Trưởng ban vận động thành lập Hội Chủ rừng Việt Nam) đã có cuộc làm việc với ông Rauno Karppinen, Chủ tịch kiêm Giám đốc Hội quản lý rừng vùng Savotta, Phần Lan. Mới đây ông Hứa Đức Nhị, Chủ tịch HCRVN, đã ghi lại những nội dung được giới thiệu trong cuộc làm việc này về rừng Phần Lan và Hiệp hội quản lý rừng Phần Lan. Bản ghi chép này cũng được ông Tapio Leppanen, chuyên gia lâm nghiệp Phần Lan và là cộng tác viên của Hội Chủ rừng Việt Nam hiệu chỉnh và bổ sung những tư liệu về rừng Phần Lan. Trang website Hội Chủ rừng Việt Nam trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc để tham khảo.

      1- Với trên 5 triệu dân, Phần Lan có khoảng 26,3 triệu ha rừng, trong đó có 20,3 triệu rừng sản xuất; Tăng trưởng tự nhiên về gỗ khoảng 107 triệu m3/năm (5,3 m3/năm ha), nhưng hiện mới khai thác 74 triệu m3/năm và thậm chí vẫn nhập khẩu gỗ từ Nga, Thuỵ Điển (do nhập khẩu gỗ còn rẻ hơn).
      Khoảng 60% diện tích rừng của Phần Lan là của các hộ gia đình cá nhân (với khoảng 600 nghìn chủ rừng). Bình quân một chủ rừng là hộ gia đình có khoảng 25 ha rừng (tại Savotta là 35 ha). Tuy nhiên, theo các chuyên gia, một hộ gia đình muốn sống được bằng nghề rừng thì cần có khoảng 200 ha rừng.
      Ở Phần Lan nói chung các hộ gia đình không vay tín dụng để trồng rừng, mà Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ làm rừng. Thí dụ: phát dọn thực bì rừng non (tỉa thưa rừng non lần đầu hay phát dọn chăm sóc rừng) chi phí 450 Euro/ha thì Nhà nước hỗ trợ 230 Euro/ha; Chủ rừng cần làm đường thì Nhà nước hỗ trợ 40%, cải tạo đầm lầy (làm khô đât rừng) hỗ trợ 50%; nếu chuyển đổi đất nông nghiệp sang làm rừng, Nhà nước hỗ trợ toàn bộ giống..
      Ở Phần Lan có Luật công dân được tiếp cận rừng để thu hái quả bery, nấm, đi săn và cắm trại.
      Rừng ở Phần Lan thường được khai thác ở tuổi 80 (với trữ lượng khoảng 200-250 m3/ha). Quá trình chăm sóc là: Phát dọn thực bì; Tỉa thưa 2 lần (năm 40 và 60). Trong sản lượng khai thác 70-80% là gỗ lớn, còn lại là gỗ nhỏ (làm dăm giấy).

      2- Về tổ chức quản lý rừng:
      Ở Phần Lan, rừng tư nhân (các hộ gia đình, cá nhân) chiếm khoảng 60% tổng diện tích rừng (chủ yếu ở phía nam Phần Lan), các cơ sở công nghiệp rừng Phần Lan (forest industry) 9%, nhà nước sở hữu 26% (chủ yếu ở phía Bắc Phần Lan) và 5% còn lại thuộc sở hữu của các thành phố tự trị, nhà thờ và hợp tác xã.
      Sáu Trung tâm lâm nghiệp nhà nước thực hiện quản lý rừng chung của cả nước và trực tiếp quản lý rừng thuộc sở hữu Nhà nước Phần Lan (bao gồm toàn bộ các khâu, từ quản lý rừng, giống, trồng và chăm sóc rừng, khai thác, tiêu thụ lâm sản..).

      3- Về tổ chức quản lý các khu rừng tư nhân:
      Từ hơn 100 năm trước các chủ rừng cùng các nhà máy chế biến và các thương lái.. đã đàm phán với nhau và tạo ra “Liên minh Trung ương của những người sản xuất nông nghiệp và chủ rừng” (MTK). Một bộ luật của Nhà nước đồng thời cũng ra đời điều chỉnh những hoạt động chính của Liên minh (hiệp hội) này.
      Các hộ gia đình thường gia nhập các Hiệp hội quản lý rừng (FMA) và uỷ thác cho Hiệp hội thực hiện các dịch vụ quản lý rừng.
      Hiệp hội quản lý rừng (rừng tư nhân) có 86 thành viên (số liệu 2020 còn 65) là các Hội quản lý rừng vùng (FMA). (Trước đây có trên 200 hội vùng, nhưng sau này đã được sát nhập lại thành 86 hội vùng – số liệu 2015).
      Hiệp hội quản lý rừng có trên 1000 nhân viên và chuyên gia lâm nghiệp với hơn 620 công nhân làm rừng toàn thời gian. Ngoài ra Hiệp hội còn hợp đồng một số lượng lớn nhà thầu và các công ty vừa và nhỏ trong quá trình hoạt động của mình.
      Hiệp hội tổ chức cung cấp các dịch vụ cho các chủ rừng ở cấp độ địa phương, như: Dịch vụ quản lý rừng (lập kế hoạch, khai thác, tái sinh, tỉa thưa..); Dịch vụ bán sản phẩm gỗ; Dịch vụ đào tạo và tư vấn.. Hiêp hội cũng là tổ chức quản lý rừng thực hiện chứng chỉ rừng theo nhóm PEFC.
      Phí tham gia hội vùng của hội viên khoảng 50-140 Euro/năm và được Hội cung cấp tất cả các dịch vụ bao gồm cả chứng chỉ rừng. Hội phí được tính 1-2 Euro/ha rừng/năm (một chủ rừng 40 ha phải nộp 80 Euro/năm). Trong khi thu nhập từ 1 ha rừng bình quân: Tỉa thưa lần 1 (40 năm tuổi) thu được 700 Euro, Tỉa thưa lần 2 (60 tuổi) 1500 Euro, Khai thác chính (80 tuổi) 10.000 Euro.
      Hội vùng nộp kinh phí về Hiệp hội FMAs khoảng 5 Euro/ 1 thành viên của hội.
      Quy định về việc nộp hội phí này kết thúc vào năm 2015. Sau đó sẽ có quy định mới về nộp hội phí và việc tham gia các hội cũng sẽ cạnh tranh hơn. Các Hội sẽ phải chuyển mạnh sang kinh doanh và không chỉ dừng lại ở dịch vụ như trước.
      Hiệp hội quản lý rừng FMAs thực hiện các dịch vụ gần như toàn bộ việc quản lý rừng cho các chủ rừng, từ việc quản lý hồ sơ rừng, làm các thủ tục với nhà nước, dịch vụ mua cây con giống, trồng rừng, tỉa thưa, tiêu thụ, khai thác.. Việc bán gỗ do Hội liên hệ các cơ sở mua gỗ, chuyển các báo giá cho chủ rừng để chủ rừng quyết định việc bán cho ai và công nhân viên của Hội lại dịch vụ việc thiết kế và khai thác gỗ cho họ.. Hội thường khuyến cáo các chủ rừng làm rừng dài ngày và sử dụng gỗ hiệu quả hơn.
      Ban quản lý của Hiệp hội (FMAs) và Hội quản lý rừng vùng (FMA) mỗi 4 năm bầu lại một lần. Tổng số 86 (hay 70) Giám đốc vùng (Hội vùng) khoảng vài 3 tháng họp với nhau một lần.
      Các thành viên quản lý của hội vùng – FMA (thường là 6 người) được bầu 4 năm 1 lần. Việc bầu Ban quản lý là trực tiếp từ các hội viên (khoảng 10.000 hội viên/1 hội vùng), tuy nhiên, nếu các hội viên không quan tâm đến việc bầu cử cũng không sao.

      4- Ông Rauno K. là Chủ tịch kiêm Giám đốc Hội quản lý rừng vùng SAVOTTA.
      Hội quản lý rừng vùng Savotta bao gồm 10.500 chủ rừng, quản lý 365.000 ha rừng. Các thành viên của Hội trước đây hầu như 100% là nông dân, nay chỉ còn khoảng 20%.
      80% hoạt động quản lý rừng trong các khu rừng tư nhân được thực hiện bởi Hội quản lý rừng Savotta. Hội cung cấp dịch vụ từ cây giống đến bán gỗ thành phẩm, cung cấp tư vấn về thuế, kế hoạch thực hiện với các diện tích rừng (chủ rừng thường 65-70 tuổi), KH phát triển rừng, chứng chỉ rừng…
      Hội có 37 nhân viên và 70 công nhân, làm việc trên 6 văn phòng.
      Cùng làm việc ở Văn phòng của ông Rauno có 1 công chức nhà nước (thuộc 1 trong 6 Trung tâm Lâm nghiệp của Chính phủ)./.